ngovantao

Ảnh của Tôi
Tên:

my writings with the illustrations - painting by the little girl-artist Ngô Quế Anh, six years old (her birthday:21.9.2002) Với những bức ký họa của Ngô Quế Anh, họa sĩ nhí, sáu tuổi (sinh ngay 21-9-2002)

Thứ sáu, ngày 01 tháng sáu năm 2012

Funeste emblême

  
Quế Anh    Life and the Death monster   
acrylic on canvas 60x80 cm  May-2012

Funeste emblême

Ce ne fut qu’un théâtre aux miroirs déformants
L’acteur qui m’est connu, revenant des lointaines
Tout seul sur la scène, va et vient titubant
Le triste reflet de mille choses humaines

Sa voix retentissante à sombrer dans la nuit
Réveiller dans l’âme les ombres des ténèbres
Désirs non-avoués, les hontes enfouies
Recouvrir le monde d’une voile funèbre

L’acteur qui m’est connu, l’image de moi-même
A retrouvé dans mon coeur le fonds de noirceur
Transcendantale antinomie, funeste emblême

Mais dans son épilogue à l’immense douceur
Il lui coule des larmes pour notre destin
De vivre dans l’étau charnel d’un Être humain

31 Mai 2012  - Ngovantao

Ngọn cờ rách

Màn kịch đã kéo lên
sân khấu là kính gương
phản chiếu bóng người lập hình và méo mó
diễn viên mà tôi quen biết
đến từ ngàn xa
vượt phong ba biển cả
tiếng anh vang lên từ đen tối
nói lên mặt trái của sự đời
anh đi đứng như người say như sắp ngã
anh mang trên vai
những dục vọng thầm kín
những tị hiềm tội lỗi
trời đất như theo anh
chìm vào một màn đêm

Diễn viên mà tôi quen biết
anh là hình ảnh của chính tôi
anh nhận ra trong trái tim tôi
một vết nhơ sám hối
những nghịch sự bản thể
ngọn cờ rách nát của bại trận
biểu dương mù quáng và điên rồ

Nhưng lời cuối của anh
là một bài thơ
mang mang nỗi buồn uẩn khúc
anh tha thứ và nhỏ lệ
cho tất cả chúng ta
sống cả đời trói chặt
trong bản năng xác thịt
của con vật kiêu hùng”.
1/6/2012

Thứ tư, ngày 23 tháng năm năm 2012

I.Kant II

 
Quế Anh     oil pastel on paper A4    June/2011

Triết lý và lịch sử
tản mạn trên triết lý của Immanuel Kant (1724-1804)

“Con người là sống với lý tính, trong xã hội cùng đồng loại, triển khai  khoa học triết lý và nghệ thuật để hiện thành với văn minh và đạo đức” (I.Kant) Cốt yếu của triết lý là tìm hiểu lịch trình và tuyên dương sự hiện thành đó của loài người. Sự hiện thành trong xã hội tất nhiên đặt những vấn đề chính trị. Ngược lại với Karl Marx, Immanuel Kant không quan niệm chính trị như là đưa ra lý thuyết để trên cơ sở đó cải thiện xã hội loài người cho đạt tới một lý tưởng hoàn mỹ xa xôi nào.

Theo tôi hiểu qua Karl Jaspers (1*), triết lý của I.Kant về chính trị xã hội có duy nhất một hoài bão minh triết cho toàn thể nhân loại, cho mọi người biết đảm nhận phận làm người. Một minh triết cho chúng ta mỗi người thoát ly những không tưởng, những lý thuyết không đâu, một phần nào như thuyết trung dung của đạo Khổng để nhận ra sự hữu hạn của bản thân, nhận ra cái gì vừa đúng và cái gì không quá viển vông trong ước vọng của một công dân trong xã hội.

Người, con vật có lý tính, biết suy tư thông hiểu rằng chỉ có thể tồn tại và phát triển với cộng đồng. Sự kiện tất yếu của đời sống cộng đồng là tổ chức xã hội có hệ thống có trật tự. Cái nghịch sự tự nhiên (antinomie) là mỗi người lại là một “chủ thể siêu thoát” (un ego transcendantal) chỉ có thể hiện thành toàn diện với tự do của lý chí. I.Kant hiểu rằng không bao giờ có thể có một vương quốc thánh thiện ở trần gian (un royaume de Dieu sur terre), một xã hội tuyệt vời tương giao và tương hữu, mà công dân  lại tự thấy hạnh phúc tự do và không cảm thấy trật tự xã hội là một gánh nặng phải đeo mang. Minh triết của I.Kant dung hòa, đối diện cái nghịch sự tự nhiên đó.

Chính bản thân con người cũng là một nghịch sự. Với lý tính, mỗi người là một chủ thể siêu thoát, nhưng vẫn chịu sự đòi hỏi của xác thịt, cuồng nộ dục vọng, ham muốn không đâu, tư hữu chiếm đoạt, tự kiêu leo đầu kẻ khác. Cho nên nhìn qua lịch sử của nhân loại, hí trường nhân sinh thế giới, ta thường phải thấy đây đó “những điên rồ, mù quáng tham vọng, độc ác tàn bạo, tư thù, quá khích phá hoại” (I.Kant).

Tuy nhiên với lý tính, con người biết suy tư. Triển khai với lịch sử, I.Kant nhận định có sự tiến bộ của những cá nhân, tự kiềm chế những lệch lạc bất tất của xác thịt. Bản năng dục tình (l’instinct sexuel) không còn là bản năng của súc vật, chỉ thỏa mãn xác thịt trong phút chốc, mà là với tư duy để lại dư âm tình cảm, biến sự đòi hỏi xác thịt thành lời tình tự của tình yêu. Hay nữa với suy tư, các cá nhân cũng tự hiểu rằng sống cộng đồng, ngoài ra chấp nhận những trật tự cốt yếu của xã hội, còn phải biết tử tế và lễ độ, dù có thể không được trả đáp như thế bởi một số người xung quanh, nhưng vẫn là một điều kiện tất yếu để cuộc sống của chính minh cao sang và trang trọng

Đó là nhận định triết lý về sự hiện thành của cá nhân từng người. Nhận định triết lý (philosopher) không phải là từ học hỏi những văn bản lý thuyết triết học xưa và nay, mà là suy luận với lý tính của chính mình, chính mình hiện thành trong giòng lịch sử của nhân loại. Suy luận về chính trị xã hội, con người có thể tự hỏi “lịch sử xã hội của loài người bắt đầu từ đâu và sẽ trở về đâu”; theo I.Kant đó là câu hỏi siêu hình học (métaphysique, không có giải đáp) của lý trí, không khác gì tự hỏi “có phải loài người là sáng tạo của thượng đế và tới một ngày nào đây sẽ bị hủy diệt”. Theo I.Kant, suy diễn về chính trị xã hội, cũng chính là suy diễn về sự hiện thành sinh động của loài người. Khái niệm xã hội, không khác gì khái niệm “loài người”, một tổng thể hỗn hợp brown-ian, tồn tại với thời gian, có thăng trầm, có khủng khoảng, có thảm họa, có đấu tranh, có nhầm lẫn, có tội ác…

Tuy nhiên, ta cũng có thể tự hỏi theo giòng lịch sử, xã hội loài người có tân tiến hay càng suy đồi. Nhìn qua lịch sử, ta có thể nghĩ xã hội tân tiến. Nhưng làm sao tân tiến mãi được, vì xã hội tân tiến là càng ngày lại càng phải phù hợp với nguyện vọng của công dân, những chủ thể tự do với nhu cầu luôn luôn thêm phức tạp và đa dạng. Xã hội có thể tân tiến, nhưng theo I.Kant nhận định, không có một hệ thống xã hội nào có thể đảm bảo  ngày mai xã hội sán lạng hơn và không rơi vào một thảm họa hay một khủng khảo nào, do luật bù trừ của thiên nhiên, do nhầm lẫn mù quáng của chính con người. Phận làm người, làm công dân của xã hội, cũng như trong cuộc sống của chính mình điển hình như tảng đá Sisyphe chúng ta cứ phải khuân vác mãi lên cao để rồi lại để lăn xuống chân đồi, cùng xã hội thăng hoa rồi lại phải tìm cách thoát khỏi sự suy đồi, sự khủng khoảng tinh thần hay vật chất.

Nhưng không vì thế mà chán chường thoái vị. Minh triết của I.Kant chính yếu là triết lý chính trị, một minh triết con người phải có để duy trì hiện thành sinh động tự do hợp lý. Hợp lý trong cái nghĩa suy tư, ý thức với lý tính sự phù du, bất lực của bản thân, nhưng tìm ra sự sáng tạo vượt qua sự tù túng cổ hủ trong từng giây phút hiện sinh. Minh triết vượt qua mọi đại ngôn lý thuyết, thật sự tức thời hiện đại, đối diện và diễn giải với nghệ thuật, với lẽ phải của tâm tư lý chí mọi hiện tượng, lêch lạc hay bất tất, mọi thử thách của cuộc đời riêng tư và xã hội.

Để kết luận, tôi xin nhắc lại lời I.Kant nhắn nhủ những chính trị gia, những kẻ đoạt được quyền uy lãnh đạo thì hãy tôn trọng với lương tri những quy luật thực tế của xã hội, trước những hiện tượng hiện thành xã hội phải biết thu nhận lẽ phải, lắng nghe ý từ minh triết của những triêt gia đồng hành, vượt qua những nhầm lẫn, nhận ra sự thật từ bỏ những giả dối, những mù quáng của chính bản thân.
Còn riêng chúng ta mỗi người hãy có hoài bão siêu thoát và ôm mang lương tri thiện chí, quy luật đạo đức của công dân một xã hội, một đất nước:
“Bầu trời đầy sao trên đầu tôi
Và quy luật đạo đức ở trong tôi” (I.Kant)

Tháng 5.2012
Ngô Văn tao

1*)  Karl Jaspers:  Les Grands philosophes : Kant - 2009,Librairie Plon-Paris

Thứ tư, ngày 16 tháng năm năm 2012

I.Kant

Quế Anh   acrylic on canvas 60x80cm   The Field (Toán gia?) 2012

Immanuel Kant: Phê phán lý tính thuần túy,
(Bùi Văn Nam Sơn dịch, nghiên cứu và chú giải)
 
Mỗi thời đại đều có những nghi vấn phải giải đáp, những thử thách phải vượt qua. Mỗi xã hội đều có “những ước mơ giáo điều” (Thái Thị Kim Lan), những nghịch lý mù quáng, ý đồ sai lệch, tư tưởng của những kẻ mạn nhận là tiếng nói của lương tri. Câu hỏi luôn luôn cập thời: Đâu là lương tri của thời đại? Thế nào là lý tính của con người hiện đại, của công dân.
Giải cấu và phản tỉnh” - như Jacques Derrida (1930-2004), triết gia cuối thế kỷ thứ 20 đã nhấn mạnh- là những điều triết gia, thi nhân, nghệ sĩ phải làm để thấy ra hư vô nằm giữa hai hàng chữ viết, thực thể đằng sau những mặt nạ và như thế mới thật là đảm nhận trách nhiệm của mình đối với xã hội, đối với cuộc đời. Tôi nghĩ chính trong dư duy đó học giả Bùi Văn Nam Sơn (BVNS) đã tận tụy dịch ra tiếng Việt tác phẩm của I. Kant “Phê phán lý tính thuần tuý” (Kritik der reinen Vernunft), và cốt yếu là nghiên cứu, chú giải dẫn nhập vào vấn đề “phê phán lý tính” của Kant hơn hai thế kỷ trước, như là sứ mệnh phải làm. Thật vậy, đọc BVNS, hay đúng hơn đọc Kant trong ngôn ngữ Việt, dưới cái nhìn cặn kẽ tổng quát của BVNS, chúng ta cũng sẽ biết tự đặt những câu hỏi “Tôi có thể biết gì? Tôi có thể làm gi? Tôi có thể hy vọng gì?” (I.Kant)
ba câu hỏi, bao nhiêu là cấp bách trong giai đoạn lịch sử giao thời này.

Đã từ lâu, chúng ta chỉ muốn vọng về thuở sống động, dồn dập trào lưu văn học: Thơ Mới, Tự Lực Văn Đoàn, Nguyễn Tuân, Nam Cao… Đã từ lâu chúng ta như bị đẩy chìm vào một thế giới mà ở đó không có lời văn và ngôn ngữ. Những nhà thơ, những nhà văn phải cảm thấy cô đơn, tuyệt vọng rằng ngôn ngữ của chính mình và của những người xung quanh như đã khô cạn, không có âm hưởng, không có ngõ triển khai. Ngôn ngữ là “Sống”, cảm năng và giác tính tương quan trong vũ trụ xoay vần đối tượng và chủ thể. Trong một xã hội giả tạo, tư tưởng lần theo một đường rày, ngôn ngữ như mất hết sinh lực, thoi thóp chỉ nói lên được nỗi buồn luẩn quẩn của nội tâm, đời sống tỉnh lẻ xã hội rập khuân.
Công trình của BVNS, nghiên cứu và dịch thuật, thật là tiếng chuông đánh thức chúng ta ra khỏi tiêu cực bi quan. Cái phần tối ưu của dịch thuật là ngôn ngữ, thì tác phẩm của BVNS trước hết là những lời, những chữ thận trọng cân nhắc phản ảnh sự chân thành nghiêm túc đối với những nguồn tư tưởng đa dạng của con người. Chữ nghĩa của I. Kant nguyên tác cổ điển, lời văn của BVNS lưu loát hiện đại, dù dịch thuật phải đối chiếu phong cách văn học giáo trường, ngôn ngữ đột phá hiện sinh nhưng vẫn tàng lưu dư âm của quá khứ, quá khứ như thượng nguồn của dòng suối ngôn ngữ luôn luôn chảy dài.

“Phê phán lý tính thuần tuý” là quyển sách phải có trong mọi thư viện. Nó là dấu mốc của văn học Việt Nam chứng tỏ sự tiến triển không ngừng của ngôn ngữ Việt Nam, với tiềm năng tiếp xúc những vấn đề sâu xa triết học Đông Tây. Đọc đi đọc lại BVNS -những lúc chỉ một hai đoạn- chúng ta sẽ cảm nhận được sự hành văn tư tưởng. Cốt yếu nữa là chúng ta sẽ thể hiện được rằng vẫn tiềm tàng trong chúng ta một nguồn sinh lực -tiếp thu từ thuở nào, đến tự tiền thân?- luôn luôn sẵn đấy để chúng ta suy diễn nói lên được mọi khúc chiết của cảm năng và giác tính. Một niềm tin tràn đầy hy vọng rằng mạch sống tư tưởng, ngôn ngữ của chúng ta mãi mãi chảy mạnh, vượt qua những chướng ngại nghịch lý, những mâu thuẫn lịch sử tức thời.
I. Kant là giáo sư triết học sống -trong cái nhìn thế tục- một đời thật buồn tẻ và tận cùng cô đơn; nhưng chính vì cho riêng một ý chí nhất định đi tìm rõ ra lý tính của con người và suy tưởng với lý tính đến được tận đâu cho chân lý và đạo đức của nhân loại. Ông tận tụy nghiên cứu, nghiêm túc suy tư quá nửa đời mới nghĩ rằng ông có điều để nói: “Phê phán lý tính thuần tuý “ của ông chỉ xuất bản năm 1781, khi ông đã 57 tuổi. Nhưng triết luận của ông là một cuộc cách mạng tư duy triết lý, một cuộc cách mạng Copernic ngay sau thời Khai Sáng, mà các triết gia trên thế giới đến bây giờ vẫn thấy cần phải học hỏi, tìm hiểu và bình luận. Hơn nữa, theo tôi được biết, những tác phẩm của ông đều là những áng văn chương Đức ngữ bất hủ, mà những văn nhân đương thời như Goethe, Schiller…công khai tìm đọc.
Tương xứng với tầm thước vĩ đại cao siêu đó, công trình của BVNS dịch thuật nghiên cứu và chú giải chỉ trên một tác phẩm triết học của I. Kant đã là một văn phẩm đồ sộ hơn 1.300 trang sách, mà hầu hết các câu đều hàm ý bắt người đọc phải suy tư. Đó là sự đúc kết của hàng chục năm đèn sách. Một gương sáng của sự tận lòng học hỏi, hy sinh nghiêm túc “tìm đến gốc rễ của triết học”( T.T. Kim Lan). Tôi không ngần ngại khẳng định rằng việc làm của BVNS là một cống hiến lớn lao vô giá cho nền văn học và triết học Việt Nam.
BVNS có viết: “Đọc Kant là một sự vất vả cần thiết, hiểu biết ít nhiều về Kant là hành trang bắt buộc phải mang theo trên mọi nẻo đường suy tưởng”. Nhưng người Việt chúng ta được đọc Kant qua công trình dịch thuật và chú giải của BVNS thì thật là “một niềm hỷ lạc trí thức” (T.T. Kim Lan). Những ý thức căn bản của triết học qua đây trở nên sáng tỏ. Những thuật ngữ chủ chốt đều được phiên dịch chính xác ra thuật ngữ Hán Việt hàm xúc và có căn cơ. Hơn nữa những lời chú giải của BVNS mở rộng ra chân trời triết học xưa và nay. Chúng ta dễ dàng hiểu rõ Siêu Hình Học của Kant, từ bỏ những nghịch lý của Siêu Hình Học tu viện. Ý thức rằng mọi đối tượng (mọi hiện tượng) chỉ nhận thức được một khi đã quy nạp vào những phạm trù (những khái niệm) tiên nghiệm của lý tính, qua chú giải của BVNS chúng ta cũng biết đó là mầm mống của hiện tượng luận Husserl, của hữu thể luận “thử tại” Heidegger. Công trình của BVNS thật là một cơ sở mà chúng ta vẫn hằng chờ đợi, một cơ sở vững chắc để mở đầu cho nền triết học Việt Nam chính đáng của ngày mai.
.Triết học Kant, chính nó như thường biết là một kho tàng triết luận để khai thác, với bao nhiêu ý niệm (lý tính thuần tuý, lý tính thực hành, phạm trù tiên nghiệm, vật tự thân…) cần phải trở lại, trong sự đổi thay tư duy trí thức của nhân loại, để bình luận, triển khai hay bài bác. Trong phương diện đó, việc làm của BVNS đủ có một giá trị vô song là mở cửa cho triết học Việt Nam đi vào lãnh vực vô cùng sinh động và phong phú. Lãnh vực triết học Kant, lãnh vực của ba câu hỏi mà tôi đã nhắc tới: ta có thể biết gì? ta có thể làm gì? ta có thể hy vọng gì? Ba câu hỏi cũng là những câu ngàn đời của nhân loại: Sống là gì? Sống làm sao cho xứng danh làm người? Triết học Kant tự nó đưa đến ý niệm Tự Do và Đạo Đức, hai ý niệm mà bây giờ hơn bao giờ hết trong lịch sử chúng ta phải suy tưởng. Theo tôi được biết, I. Kant đã triết lý suy luận sâu xa trên hai ý niệm này trong: “Kritik der praktischen Vernunft” (Phê phán lý tính thực hành), tác phẩm xuất bản năm 1788. Chúng ta thật ước mong học giả BVNS sẽ tiếp tục nỗ lực hy sinh cống hiến cho văn học Việt Nam công trình dịch, nghiên cứu và chú giải tác phẩm tiếp theo này của I. Kant. Chính BVNS như đã thầm hứa hẹn, trân trọng nhắc lại những câu sau đây của Kant, trích từ “Phê phán lý tinh thực hành” ( nay đã xuất bản - 2*)
“Hai điều tràn ngập tâm tư với sự ngưỡng mộ và kính sợ luôn luôn mới mẻ và gia tăng mỗi khi nghĩ tới:
Bầu trời đầy sao trên đầu tôi
Và quy luật đạo đức ở trong tôi”
Những câu văn Đức ngữ, mà BVNS đã dịch lại như ở trên, đã được khắc trên bia mộ Immanuel Kant (1724-1804), những câu mang mang một niềm tin bất tận ở tâm linh trí tuệ của con người.
tháng 10 . 2004
Ngô Văn Tao

Immanuel Kant: “Phê phán lý tính thuần tuý”
Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải. Nhà xuất bản Văn Học – Việt Nam 2004
hơn 1300 trang. Đặc biệt có bài dẫn luận dài 30 trang của Tiến sĩ Triết học  Thái Thị Kim Lan, với mục lục vấn đề và nội dung thuật ngữ dài 40 trang.
Bài bình luận trên của tôi đã đưa lên mạng Talawas.org năm 2004, nhưng tôi cảm thấy nên nhắc nhở lại, trước những thắc mắc và trăn trở của văn học Việt Nam hiện tại.
(2*) Immanuel Kant : “Phê phán lý tính thực hành”
Bùi văn Nam Sơn dịch và chú giải, Nhà xuất bản Trí Thức- Hà Nội 2007


Thứ bảy, ngày 05 tháng năm năm 2012

So I'have lived!

Quế Anh   oil pastel on paper

So I’ve lived!
At the threshold of the sideral night of loneliness, I shall give up my soul and my abhored hopes to the coming eternal darkness.

For all the time of our disfigured dreams, in this world where all seems to be said and nothing to be shared, and with the wrench of our days, I did not try to hear the human cry, the existential one of mine.

I shall come and lie by the wall of looking-glasses, to find out the reflection of my own image, the purified shadows of my past desires.

I shall be back to the land, the home-country that I keep always in my heart since my childhood.

I am the warrior home-coming from exile, to find his house in ruin, in destitution, buried in solitude.
I shall drink the muddy water from the spring of the land, leaving behind the cities of lights, the concrete unending highways, realizing how vain were my flights and my struggles for an impossible ideal of beauty and justice.
Emaciated figure in rags and tatters, covered with dirts, under the rough sunny and humid summer sky of the tropic, I shall do penance for all my pretentions, my weaknesses, my utopies, living again -as the last deed against the silence- that tender embrace, the love look, the first grieving tears flowing down along my downy cheeks of yersteryears.

Như thế anh đã sống!
Để giờ đây, ở ngưỡng cửa đêm dài cô đơn, anh trả hồn anh và mọi đợi chờ cho vĩnh hằng đen tối.
Với thời gian làm đổ vỡ những mộng mơ, trên cõi đời này với tất cả những lời thổ lộ và những điều ôm giữ, những vật vã của cuộc sống, anh đã không nghe ra tiếng người đời,  tiếng than thở  của chính lòng anh.
Anh sẽ đi và nằm chết ở chân tường kính gương, nhận ra lại hình ảnh anh u mờ và bóng đen của những dục vọng không lường.
Anh sẽ đi và trở về nơi chốn cũ, đất nước quê nhà mà anh ôm mang trong tim anh từ tuổi còn thơ.
Anh sẽ là người lính bại trận, trở về tìm lại mái nhà xưa tan hoang, đổ nát và không một bóng người thân.
Anh sẽ uống nước đục của giòng suối nhỏ giữa đồng hoang, quên những đô thành ánh sáng, những đại lộ không cùng, để biết rằng anh đã trốn chạy và đấu tranh không đâu cho một lý tưởng viển vông hoàn mỹ và công lý.
Thân hình tơi tả, áo quần rách rưới, phủ đầy bụi đường, anh sẽ tìm lại khung trời kia, gay gắt nắng vàng và ẩm thấp của miền nhiệt đới, anh sẽ sám hối cho tất cả những tự kiêu, những yếu hèn và những không tưởng; anh sẽ sống lại -dù chỉ một giây phút thôi trước sự im lặng không cùng- nụ hôn xưa, đôi mắt nhìn thân ái và những giọt lệ khắc khoải đầu tiên lăn trên đôi má mịn của buổi mới làm người.
NVT

(extract from the original poem in french:”Caballero de la trista figura” in “Papyrus”)
(trích lại từ bài thơ tiếng pháp “Caballero de la trista figura” in trong tập “Papyrus)




Thứ tư, ngày 25 tháng tư năm 2012

Bóng Ma cua Marx II

Quế Anh     Acrylic on canvas  40x50 cm


Những bóng ma của Marx II

Trong năm 2011, nhật báo thời sự văn học và chính trị Le Monde (Paris-France) xuât bản đặc san “Hors Série-Le Monde: Karl Marx”. Tuy chỉ là một đặc san hơn một trăm trang giấy, nhưng xác định một cái nhìn tổng quát và rât hiện đại,  lược trình cuộc đời của Karl Marx (1818-1883), trích lược nguyên văn  những  ý tưởng cốt yếu duy vật khoa học lịch sử biện chứng và chủ động cách mạng xã hội cộng sản của K.Marx. Đặc biệt nhất cùng  với những lời phản biện và thảo luận của Jean Jaurès (1859-1914), lãnh tụ công đoàn và đảng xã hội Pháp (parti socialiste), của François Holland, ứng cử viên sáng giá của đảng xã hội cho cuộc bầu cử tổng thống Pháp năm 2012, cùng những lời bàn của nhiều tư tưởng, triết gia nhân văn xã hội như Louis Althuser (1918-1990), Jacques Derrida (1930-2004), Cornelius Castoriadis (1922-1997)……Những tư tưởng, triết gia đã  chìm đắm trong những xã luận của Marx, nhưng  phản biện thích ứng sao trong sự hiện thành lịch sử  thế giới hiện đại.
Bài tản mạn dưới đây của tôi là những lời riêng tư “thông diễn giải” qua đặc san này.


“Lao động vô sản thế giới hãy đoàn kết!”. Cho một cuộc cách mạng không biên giới, phá vỡ ách thống trị tàn bạo hút máu của thực dân tư bản thuộc địa, đập tan chế độ tư bản tha hóa sức lao động của con người. Thanh niên vô sản lao động mồ hôi nước mắt, đặc biệt như ở Việt Nam còn lầm than nhục nhằn với thực dân đế quốc Pháp, tất nhiên rung động trước lời kêu gọi đó, lời kêu gọi của Đệ Tam Quốc Tế (đảng cộng sản quốc tế chủ nghĩa Marxit-Leninit-Stalinit circa 1917-1950), của những đảng cộng sản thế giới. Lời kêu gọi với lời hứa hẹn một ngày mai sán lạng, ngày mai của xã hội cộng sản, “không một ai bị trói buộc lao động, mọi người đều hoạt động đóng góp sản xuât theo sở thích; xã hội sẽ tự động phân phối sự thu hoặc của mọi người để cho ta mỗi người có thể hôm nay làm việc này ngày mai làm việc khác, đi săn buổi sáng, đi câu buổi trưa, chăn nuôi buổi chiều,  tối về sau bữa cơm nhàn rỗi ngồi bàn luận chuyện trời đất, không một ai bắt buộc phải làm thợ săn, ngư dân, mục đồng hay nhà văn cạo giấy.” (K.Marx – (Tư tưởng lý thuyết của dân Đức) Idéologie Allemande , Edit. Gallimard 1994, page 318-321)

Lời kêu gọi cùng cái ngày mai sán lạng không tưởng đó vang vọng đến từ K.Marx, tư tưởng gia của Đệ Nhất Quốc Tế Cộng Sản Đảng ( với Engels là tác giả bản Tuyên ngôn “Le manifeste du communisme – Marx & Engels, 1848” ). Để chứng thực cho cuộc cách mạng hoàn vũ cộng sản chủ nghĩa tương lai, K.Marx tận tụy cả đời tìm đặt ra lý thuyết cơ bản xã hội và nhân sinh dẫn dắt tầng lớp lao động vô sản của thế giới tranh đấu thoát khỏi hố thẳm đen tối của chế độ chính trị kinh tế tư bản.

K.Marx trước hết là triết gia, đã từng là “thanh niên Hegel-ian” (Les jeunes Hegeliens), theo lý thuyết khoa học biện chứng của Hegel nhưng không chấp nhận khía cạnh duy tâm trong tư tưởng của Hegel, trọng thị sự hiện thành của con người với lý tính siêu thoát, có tôn giáo, có hoài bão nghệ thuật. Quan niệm nhân sinh của K.Marx chủ yếu là duy vật. Con người có tư duy, bản chất trước hết là con người của xã hội, của đời sống cộng đồng. Sự hiện thành của con người là hiện thành trong điều kiện vật chất, lao động để giải đáp những nhu cầu vật chất sinh lý tồn tại, hiện thành trong khuôn khổ tập quán và hệ thống trật tự của xã hội mình. Chính tôn giáo thịnh hành cũng chỉ là một hệ thống điều chỉnh nếp sống của mọi người, cho ta cái cảm giác bình đẳng thân ái trong xã hội (ai ai cũng là con chiên trước Thượng Đế). Tuy nhiên, xã hội của con người luôn luôn tiềm ẩn những mâu thuẫn, những lệch lạc bất tất, người hại người, người bóc lột người. Nên K.Marx nói lên tiêu chỉ nổi tiếng: “triết gia xưa nay chỉ lo diễn giải thế giới, nhưng vấn đề của chúng ta là phải luôn luôn  cải thiện xã hội mình”.

Chính tiêu chỉ này đã ám ảnh nhiều nghệ sĩ và tư tưởng gia thế giới vào nửa đầu thế kỷ thứ hai mươi khi theo K.Marx còn tin tưởng ở lý thuyết có sức lôi cuốn mang công lý tới cho xã hội. K.Marx, trong thời ông, vào nửa cuối thế kỷ thứ mười chín, thì nhận ra chế độ tư bản, phát triển kỹ nghệ, tiềm ẩn lệch lạc, tha hóa bản chất con người. Lý thuyết của K.Marx là vạch ra ở những xí nghiệp lan tràn, người công nhân chỉ còn là một phần trong hệ thống cơ giới sản xuất, sự lao động của họ bị tha hóa mất bản chất nhân tính ( tư liệu sản suất có lợi gì trực tiếp cho bản thân, cho người quen?), chỉ còn là một động cơ với giá trị thương mại, thực tại vật chất mang lại lợi nhuận (la plus-value) cho chủ xí nghiệp. Và ngay cả những người tư bản, những ông chủ của cơ sở sản xuất, cũng tha hóa, họ cốt yếu bận tâm duy nhất một điều là tìm lợi nhuận, sản xuất thật nhiều hàng hóa để tung bán ra trong thị trường. Một chế độ tha hóa con người, tiềm ẩn mâu thuẫn giữa công nhân và tư bản, mâu thuẫn ngay trong nội bộ tầng lớp tư bản đưa đến phá giá thị trường với sự sản xuất tham lam quá độ. Chế độ tư bản rồi đây bắt buộc phải suy thoái. Giai cấp công nhân vô sản càng ngày càng đông, càng bị bóc lột sẽ là sức mạnh để cách mạng cải tổ cái chế độ xã hội hủ lậu này. Giai cấp công nhân vô sản lớn mạnh sẽ đứng lên, công cộng hóa mọi cơ sở sản xuất, tổ chức lại xã hội sao cho chúng ta tới ước mơ lãng mạn, “một xã hội mà mọi người sẽ lao động đóng góp tùy theo bản năng, tiếp thu đầy đủ cho nhu cầu vật chất tất yếu của mình”.

Đệ nhất quốc tế cộng sản đảng, mà Marx-Engels viết bản tuyên ngôn, chính là đảng muốn cùng giai cấp lao động vô sản đảm nhận sứ mạng. Một cuộc cách mạng với sự hiện thành của giai cấp lao động vô sản đa số trong quần chúng và chính tầng lớp tư bản tự nó cùng chế độ của họ tiềm ẩn sự suy thoái. Tuy nhiên, K.Marx thừa biết sự lệch lạc bất tất trong đời sống, nên K.Marx nhắc nhở praxis, hành động và trưởng thành thực tiễn mà chúng ta phải có trong cách mạng để thích ứng với hiện tượng xã hội tức thời. K.Marx nhân đó cũng biết khó mà có thể quy định xã hội cộng sản tổ chức sao để cho chúng ta đạt tới ước mơ lãng mạn. Tổ chức sao cái xã hội cộng sản của ngày mai? K. Marx chỉ có thể mơ hồ nuối tiếc và nhắc tới Công Xã Paris (1871), cách mạng tồn tại không đầy hai tháng mà bị tiêu diệt ngay trong máu lửa, “một công xã có hội đồng nhân dân, được toàn dân chọn lọc  nhưng có thể bị quần chúng sa thải, để tổ chức công xã, vừa lập pháp và vừa hành chính…Chức vụ công an là chức vụ phi chính trị, trách nhiệm duy nhất trước hội đồng nhân dân…Tât cả những ai trong hội đồng hay được trao trách nhiệm hành chính nào sẽ được chọn lọc hữu hạn với lương bổng như một công nhân lao động…”(K.Marx)

K.Marx thừa biết con đường chính trị cách mạng cộng sản không là con đường cái được vạch rõ ra cho xã hội. Hàng ngàn trang sách của K.Marx, xã hội học, kinh tế học, nhân sinh lý thuyết, cốt yếu là những trang chính trị đấu tranh, với những quy định hữu hạn (theo thuyết duy tâm của Hegel!!), tự nó có mâu thuẫn, có giá trị chỉ tức thời, không tránh được những kẻ khác thi nhau diễn giải với những lập trường đối nghịch, phản bội ngay cả chính ông; K.Marx đã từng thổ lộ với Engels một câu nổi tiếng: “họ thi nhau bình luận; nhưng tôi biết tôi không là marxit “ (không phải là marxit trong sự diễn giải lý thuyết của mọi người- nvt).

Có lời đàm luận nguyên văn sau đây của triết gia Cornelius Castoriadus (1922-1997), năm 1975 trong đêm cùng phá sản của Đệ Tam Quốc Tế Cộng Sản Marxit-Leninit-Stalinit (với sự sụp đổ của xã hội chủ nghĩa ở những nước Đông Âu):
Chúng ta đang sống đây, sau bình minh hứa hẹn để tới ngày chỉ đầy khó khăn nghi vấn! Những công đoàn ( của giai cấp công nhân vô sản) khắp nơi trên thế giới trở nên hành chánh quan liêu (bureaucratisé) không một chút gì triển vọng đóng góp cho xã hội của con người ngày mai…Một hành chánh quan liêu ngay ở những nước mệnh danh xã hội chủ nghĩa Maxit-Leninit, mang chủ nghĩa Marxit ra làm bình phong cho những chính thể “giáo điều vụ giai cấp lao động trên giấy tờ” nhưng thật sự tàn bạo ức hiếp và sự tha hóa con người vẫn nguyên đó…Chủ nghĩa xã hội Marxit đã chết rồi, như một động cơ chính trị xã hội không còn ý nghĩa gì bởi quá nhiều lý lẽ”.

“Tôi không là marxit!”, lời nói đó của K.Marx như tiên đoán lý thuyết của ông sẽ tha hóa trong giòng lịch sử. Theo C.Castoriadus, sự tha hóa tai hại nhất chính là các tư tưởng gia chính quy cộng sản (những đảng viên) chỉ biết nghĩ theo K.Marx một cách giáo điều sơ cứng “biện chứng duy vật lịch sử”, từ cái nhìn phản biện chế độ tư bản xưa của K.Marx đưa ra quan niệm sơ đồ chính trị, kinh tế lịch sử như một hiện tượng khoa học vật chất trong sự hiện thành của nó, phát triển theo những quy luật kỹ thuật khách quan. Chính quan niệm này coi như là tuyệt đối chính xác, đưa đến sự hiện thành một đội ngũ lãnh đạo quan liêu, tự nhận mình là chuyên gia bác học chính trị kinh tế xã hội, thực hành những quy luật của xã hội, những quy luật tât yếu và duy nhất ôm mang chính nghĩa và lẽ phải.. Một đội ngũ tự đại, tự kiêu, không còn nhân tính, phủ nhận sự hữu hạn của chính mình, chính mình trong cái phận làm người. Một đội ngũ không chấp nhận có thể nhầm lẫn, trở nên giả dối, giả dối với cả chính mình; chỉ biết giáo điều không chấp nhận phản biện, trở nên độc tài tàn bạo (Staline, Pol Pot, “phong trào quyển sách đỏ của Mao Trạch Đông”, “thảm họa cải cách ruộng đất và vụ án nhân văn giai phẩm ở Việt Nam” ).

Những hiện tượng lệch lạc bất tất đó, chính nó đã làm xã hội chủ nghĩa Đông Âu xụp đổ, xã hội chủ nghĩa ở Trung Quốc và ở Việt Nam phải thay hình đổi dạng, đổi mới nền kinh tế lạc hậu sơ cứng “bao cấp xã hội chủ nghĩa’’ ( phủ nhận sự tự do tối thiểu của con người, điều hòa nhu cầu và tư liệu vật chất như mang nải chuối ra chợ bán, mang áo cũ ra mời mua) và gia nhập nền kinh tế thị trường tự do tư bản, nhưng tiếc rằng dưới sự quản trị của tập đoàn xã hội quan cũ bè phái hỏa đầu.

Sư thật là “biện chứng pháp duy vật khoa học lịch sử” của K.Marx, tự nó không có ý nghĩa! Lịch sử chuyển biến không phải hoàn toàn qua những đòi hỏi kinh tế, qua những mâu thuẫn đấu tranh quyền lợi vật chất. Nó cũng là sự chuyển biến qua những lệch lạc bất tất duy tâm, lý tính của con người, chiến tranh thế giới thứ hai bắt nguồn từ ảo vọng tàn bạo dã man của tập đoàn phát xit Hitler, sự xung đột ở Trung Đông hiện nay bắt nguồn một phần từ chủ nghĩa toàn thống Do Thái (le fondamentalisme juif)….

Xã luận đấu tranh chính trị của K.Marx, lý thuyết khoa học duy vật biện chứng Marxit, đã viết ra trong tình trạng xã hội kinh tế của Âu Châu, với sự triển khai kỹ nghệ hóa ở nửa cuối thế kỷ thứ 19. Hơn một thế kỷ sau, tình trạng hoàn toàn thay đổi, kinh tế đột phá với khoa học kỹ thuật ngoài sự tiên đoán của K.Marx. Ở Âu Mỹ, những nước tiền phong kỹ thuật, giai cấp lao động cũng theo đà trở nên trung lưu tiểu tư sản (bourgeois!). Không còn lao động dây chuyền mồ hôi nước mắt mà là công nhân kỹ thuật, là nhân viên dịch vụ, trọng thị quyền tư hữu (the american dream!), như là bản chất ngàn xưa của con người. Trọng thị sự tự do sáng tạo của mỗi người, dù có thể chỉ trong cái thế giới hiện sinh nhỏ bé của riêng mình, cái tự do sáng tạo ngoài  ra chính là động cơ cho sự đột phá khoa học và kỹ thuật. Ở những nước tiền phong đó, tư bản chủ nghĩa trở nên là lẽ sống, Ai cũng có sổ tiết kiệm, quỹ hưu bổng đầu tư trong chứng khoán của những công ty kỹ nghệ hay tài chính. Giai cấp vô sản, trong cái nghĩa Marxit, không còn là tập thể cốt yếu, nếu có, trong xã hội. Hiện tượng đấu tranh giai cấp không còn có trong xã hội.

Lịch sử không bao giờ vào chung cục! Luôn luôn có những xung đột ngay trong tình trạng vĩ mô giữa người và người, bè phái tài phiệt nhũng loạn thế giới, tham ô chức quyền (những lãnh tụ độc tài tàn bạo) đưa đến  nội loạn quốc gia, những lệch lạc bất tất nhân sinh của bản chất làm người trong xã hội..…Hội đồng quốc tế (Organisation des Nations Unies) là một tiến bộ văn minh, nhưng không sao xóa bỏ được sự chênh lệch giữa nước giàu và nghèo (những nước nghèo vẫn là hậu cần để đóng góp tài nguyên, lao động hạ tầng). Hơn nữa văn minh dân chủ tự do thương mại và tài chính kỹ thuật đến đâu vẫn tiềm tàng mâu thuẫn, như sự khống chế của tập đoàn tài phiệt do thái, sự thành lập nước do thái Israel cùng chủ nghĩa toàn thống do thái, gián tiếp làm bàn đạp để tuy trì mỏ dầu ở Trung Đông, hợp với quyền lợi của những công ty tư bản Âu Mỹ. Sự hưng thịnh bá quyền đó bắt buộc phải mang đến sự phản kháng, chủ nghĩa khủng bố  với chủ nghĩa toàn thống hồi giáo (le terrorisme et le fondamentalisme musulman). Sự phản kháng nhất định phải có, như Marx có thể nhận định qua lý thuyết biện chứng pháp. Cũng như sự hưng thịnh giàu sang tư liệu vât chất càng ngày càng phải tăng tiến (la surproduction commerciale) với sự đột phá không ngừng của khoa học và kỹ thuật, mang theo nguy cơ thảm họa môi trường (cùng những trái bom nguyên tử, trong nghĩa bóng và nghĩa đen lủng lẳng trên đầu nhân loại), mang đến những thiên tai ngoài tầm dự đoán. Tất cả rồi đây sẽ tan hoang, đưa nhân loại trở về thời tiền sử chăng?

Lý thuyết Marxit,  xã hội học và kinh tế luận, không còn ý nghĩa tức thời. Thật ra càng ngày chúng ta càng nhận ra sự hữu hạn của mọi lý thuyết nhân sinh xã hội; “hậu hiện đại” và “hiện tượng học” là tư duy của thời hiện đại, không chấp nhận “đại ngôn tự sự lý thuyết” (la fin des grands récits théoriques). Nhưng giấc mơ lãng mạn của Marx vẫn còn đó; dù cái xã hội hoàn mỹ “mọi người đóng góp theo bản năng và đồng đều hưởng thụ” chỉ là một viễn cảnh không bao giờ tới. Xã hội chủ nghĩa Marxit đã viết lên những trang sử, một thời hăng say lãng mạn một thời tàn bạo đen tối đẫm máu, và  dưới một hình thức mơ hồ nào đó còn là giáo điều ý thức hệ của hai ba quốc gia trên thế giới, nên vẫn phải là một lý thuyết cần diễn giải hay đúng hơn giải cấu (J.Derrida),  Đặc biệt nhất, K.Marx là nhân vật điển hình, triết gia tận tụi cả đời tìm những lý lẽ để tranh đấu cải thiện xã hội. Hoàn thiện xã hội để không một tập đoàn tham ô nào lợi dụng người dân, để trong xã hội giá trị con người là chính, sự bình đằng và sự tương hữu xã hội trong cộng đồng nhân loại là cứu cánh. K.Marx sẽ luôn luôn là thần tượng nhắc nhở nhân loại phải hòa đồng,  chung sức cho loài người vượt qua những thảm họa thiên tai (sự phá hoại môi trường), những lệch lạc bất tất của lịch sử ( nguy cơ lệch lạc chính trị đưa đến nghèo nàn đói khát, nguy cơ chiến tranh với những sự mù quáng bá quyền).

Tháng 4/2012
Ngô Văn Tao


Thứ hai, ngày 23 tháng tư năm 2012



Thơ Trịnh Công Sơn



  
Quế Anh    acrylic on canvas 50x70 cm

Pour être poète, tout comme avoir la vocation d’artiste, il faudrait avoir cette qualité fondamentale:
La sensibilité. S’émouvoir à tout instant de quelque chose, de quelque fait qui même anodin provoque pourtant en nous une réaction intérieure, un certain sentiment qui va nous rester dans la mémoire.
C’est ce que Husserl appellait “epoché” de notre “ego transcendantal”,  mettre entre deux parenthèses certains faits des phénomènes de la vie.
De tous les arts, la poésie est certainement la plus commune, la plus indécise. Ne dit-on pas souvent que ce peintre ou ce musicien est un vrai poète, que même ce philosophe, tel que Nietzsche, est plutôt un poète. En ce sens, la poésie est un art où la technique est moins inportante que l’évocation des idées, des émotions ou des sentimenets….
Cependant, pour écrire des poèmes, il faut acquérir une certaine technique, le jeu du langage. Un vieux poète m’a dit une fois que pour savoir écrire un poème, il faut s’intéresser à la poésie, être touché par au moins une centaine de poèmes de la littérature et en garder la mémoire.
Évidemment après ce commentaire, on ne peut pas oublier que l’art est transcendental; pour être artiste, être poète, il faut en avoir du talent, une certaine disposition immanente.
nvt

NB. Du célèbre musisien Trịnh Công Sơn, qui était aussi poète et peintre, nous avons une véritable illustration du commentaire, que la poésie, au delà des mots, est impliqué dans l’art.



Trịnh Công Sơn dixit

Je ne dessine pas
mais j’écris
Une figure ne se dessine pas
elle s’écrit
Elle s’écrit
comme la figure qui s’écrase
Et du contour que j’écris
naît un Autre contour
le contour d’une image
l’image de mon Ecriture

nvt  Montréal 1992 Avril

Như lời tựa

Có những bài thơ viết vì
một nỗi mơ màng không uẩn khuất
những bài thơ tuyệt vọng
những bài thơ sáng lạng
một tình cảm rộn ràng
trong phút chốc
Đừng nhớ niềm tuyệt vọng
hãy nhớ trời cao
mây và mây
bay trên bầu trời lãng đãng
Tình yêu và gió
gió thổi mênh mông
một cuộc đời
Cuộc đời lận đận
em ơi! Gió thổi
Có những con đường xa xôi
em sẽ đi và đi mãi
Tôi, người thợ nặng nề
vác nặng những cuồng điên
Em ơi! ở lại ưu phiền
Đừng tuyệt vọng
gió thổi trời cao
áo vàng bận rộn
Có thể mai này…
Có thể mai này không có gì nặng nợ
với trầm luân cuộc đời
gió hàm oan cứ thổi, mà tôi đi, đi mãi
không cần ai giữ lại
một tấc lòng
một tấc lòng không đáng kể
vì có bao giờ ai hiểu rõ
chút vô thường
vô lượng của lòng tôi

Montreal 1992
Trịnh Công Sơn
(trích từ tập thơ song ngữ Việt-Pháp : Les Beaux Jeudis, Trịnh Công Sơn-Ngô Văn Tao, Montréal 1992, chưa xuất bản)